Những lưu ý khi trong quá trình thi công và nghiệm thu công tác trát tường

6Th3 - by admin - 0 - In CÔNG TRÌNH MÁI TÔN Sản phẩm xây

 

Trát là dùng vữa bọc bề mặt khối xây: tường cột, dầm, trần,…
Mặt trát có các tác dụng sau đây:
1. Bảo vệ cho khối xây khỏi bị tác dộng trực tiếp của khí hậu (mưa, nắng, nóng, ẩm,…).
2. Che cho khối xây khỏi bị các va chạm trực tiếp trong quá trình sử dụng.
3. Tránh bụi bám vào khối xây.
4. Tạo phẳng, tiện nghi và thẩm mỹ.
Ngoài ra mặt trát còn có tác dụng chống nóng lạnh, chống ẩm, chống thấm, chống cháy, chống axit, cách âm,…

1. Vữa trát
1. Các yêu cầu về vữa trát
<1. Yêu cầu chung về vật liệu ưôn vữa xem ở mục 4.3.2.1.
2. Dùng cát nhỏ hoặc cát đen:
– Lớp lót (trát thô) dùng cát cỡ hạt < 0,25 mm;
– Lớp mặt (trát mịn) dùng cát cỡ hạt < 0,12 mm.
Nếu phải dùng cát biển hoặc cát vùng nước mặn để trộn vữa thì phải rửa bằng nước ngọt.
3. Dùng vôi nhuyễn dã tôi > 2 tháng.

Nhân công trát tường căn hộ chung cư
4. Đúng loại vữa, mac vữa và độ dẻo. Vữa đủ dẻo sẽ dễ trát, dính tốt mặt trát và trát nãng suất cao. Muốn cho vữa dẻo, ngoài việc đúng liều . lượng vật liệu như thiết kế, còn phải dùng loại cát hạt nhỏ hoặc cát den như dã nói, hoặc có thể thêm các chất phụ gia tâng dẻo như nước xà phòng, nước bã giấy,…
Độ dẻo của vữa trát như sau (cm)
– Khi trát lớp lót: 5 – 8;
– Khi trát lớp mặt: 7-8;
– Khi phun, vẩy: 8 – 12;
– Khi trát mạng ngoài: 7-8;
– Khi trảt mặt nhám (trát gai): 8 – 10;
– Khi trát lộ sỏi: 5 – 6;
– Khi trát mặt đá hạt lựu: 6 – 7;
– Khi trát trang trí bằng vữa vôi – cát:
+ Lớp lót: 8 – 12, + Lớp mặt: 7-9;
– Khi trát bằng vữa tam hợp:
+ Lớp lót: 9 – 10,
+ Lớp mặt: 7-8.
1. Các yêu cầu về trộn vữa trát như vữa xây (xem ở mục 4.3.2.2).
2. Nơi sử dụng, liều lượng và cách trộn các loại vữa trát

Tham khảo quy trinh thi cong va nghiem thu công tác xây tường
1. Vữa vôi – cát, vữa vôi – cát ít ximãng, vữa vôi – rơm dùng trát nơi khô ráo, liều lượng và cách trộn xem ở mục 4.3.2.3a.
2. Vữa ximăng – cát mac 25 trát nơi ẩm ướt ít;
mac 50 trát nơi ẩm ướt nhiều; mac 75 (80) trát nơi chịu áp lực nước (tường của bể chứa nước, bể xí,…),.
Liều lượng và cách trộn vữa ximãng – cát xem ở mục 4.3.2.3b.
3. Vữa tam hợp và vữa ximãng – cát ít vôi
mac 8-10 trát nơi ẩm ướt rất ít; mac 25 trát nơi ẩm ướt ít; . mac 50 trát nơi ẩm. ướt theo chu kỳ.
Liều lượng vữa tam hợp xem ờ mục 4.3.2.3c.
4. Vữa thạch cao, vữa thạch cao – cát và vữa thạch cao – vôi trát nơi khô ráo, liều lượng và cách trộn xem ở mục 4.3.2.3d.
Ngoài ra còn các loại vữa trát trang trí:
1. Vữa màu gồm ximãng, bột đá và bột màu trộn với nước.
2. Vữa granito thường dùng để trát hành lang, cầu thang, lối di, lancan, tường,… Đây là cách trát giả dá nhưng rẻ tiền nên rất phổ biến.
Vữa granito gồm ximăng trắng trộn đá hạt lựu (đá granito) cỡ 4 – 5 mm (có thể 3 – 10 mm), bột đá (để mặt được mịn) và bột màu với nước. Đá hạt lựu được sản xuất từ đá vôi hay đá cẩm thạch có nhiều màu Tỷ lệ pha trộn theo khối lượng như sau: 1 vật liệu trộn với 1,2 – 1,5 đá hạt lựu. Vật liệu trộn: 1 kg ximãng trắng trộn 0,5 -1 kg bột đá trộn 15g bột màu. Cách pha trộn vữa granito:
1. Trộn khô ximăng, bột đá, bột màu;
2. Rây;
3. Trộn với đá hạt lựu;
4. Cho nước vào: ngẩm từ từ và đều;

5. Thử độ dẻo của vữa bằng cách nắm vũa vào lòng bàn tay mà nước không chảy ra và khi xoè tay ra mà vữa không rời ra lả được.

2. Các vấn đề về trát
/. Chuẩn bị nền trát
1. Kiểm tra nền trát có phẳng không, thẩng đứng không (bằng nivô, dây dọi). Nếu có chỗ lồi, lõm thì phải đục bỏ chỗ lồi quá, trát vữa trám chỗ lõm quá.
2. Nền trát phải nhám: nếu không nhám phải đục xờm, đánh xờm, phun cát,… (Điều 7.7 của TCVN 4085 – 1985).
3. Nền kim loại thì phải tẩy hết gỉ (Điều 7.2).
4. Các nền xốp, nền dễ hút nước thì nên trát trước một lớp vữa mỏhg để bịt các lỗ.
5. Khi khối xây đã khô thì mới được trát. Nếu trát bằng vữa tam hợp, vữa ximãng – cát và khi khối xây xây bằng vữa vôi – cát thì phải để 3 – 4 tuần (ít nhát là 2 tuần), xây bằng vữa ximăng – cát thì chỉ sau 1 tuần
(ít nhà là 4 ngày) là trát được. Nếu trát bằng vữa vôi – cát hoặc vữa vôi – cát ít ximãng thì có thể trát sớm hơn’. Tuy vậy không nên để quá lâu, vì sẽ bị bụi bẩn, rêu mốc,… bám vào, khi trát phải cọ rửa sạch.
Đối với nền ưát là bêtông thì trát càng sớm càng dễ dính, nên thường trát ngay sau khi tháo dỡ ván khuôn. Đối với nền trát là gỗ thì chỉ được trát khi gỗ dã khô hẳn.
6. Khi nền trát khô quá thì phải tưới nước, nhất là khi trời hanh khô, nắng gắt. Nền trát là gạch, đá thì tưới xong trát ngay, nền bêtông phải tưới nước trước 2 giờ.
2. Các yêu cầu khi trát
1. Đối với mặt trát vữa thông thường thì chiều dày mặt trát 5 – 20 mm (do thiết kế quy định). Khi mặt trát dày > 10 mm thì phải trát làm nhiều lớp, mỗi lớp không dày quá 10 mm hoặc mỏng quá 5 mm.
2. Mặt trát phải bám chắc vào nền trát.
3. Trát đến đâu thì cán và xoa mặt trát đến đó.
4. Nếu mặt trát gồm hai loại vật liệu khác nhau thì cần chừa mạch cách giữa hai phần vữa ưát để tránh nứt mặt trát.
5. Khi ngừng trát phải để mạch ngừng theo kiểu răng cưa (không dể thẳng) để liên kết giữa vữa trát trước – sau cho tốt.
6. Muốn trát các bộ phận trong nhà cần:
– Làm xong mái và sân thượng;
– Làm xong các vách ngăn, khung cửa,… và phải bọc giấy bảo vê những nơi không trát;
– Lắp đặt xong các trang – thiết bị điện, nước,… đi ngầm;
– Đã lấp kín các rãnh trong tường, sàn, sau khi lắp đặt xong các trang – thiết bị.
7. Muốn trát các bộ phận ngoài nhà, cần làm xong phần đua ra của mái, lắp xong máng nước và ống dẫn nước, đảm bảo thoát dược nước mái.
8. Trên sàn công tác hoặc dưới chân mặt trát phải đặt ván dể hứng vữa rơi.
9. Cần kiểm tra giàn giáo trước khi trát.
10. Không trát phía ngoài nhà khi trời mưa.

Công tác trát được thể hiện bằng 3 bước cụ thể như sau :

1. Giai đoạn chuẩn bị tô.
2. Trình tự và các yêu cầu kỹ thuật khi tô.
3. Công tác kiểm tra.

1. GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ: 
-Dụng cụ: bay, bàn xoa, thước, nivô, dây nhợ… Vật liệu là vữa xi măng mác 75 với cấp phối thích hợp.
-Công việc tô được thực hiện sau khi các kết cấu cần tô đã được hình thành.
-Chất lượng lớp tô phụ thuộc rất nhiều vào bề mặt cần tô, bề mặt cần tô cần phải đạt một độ cứng ổn định, chắc chắn rồi mới tiến hành tô; đối với tường thì cần phải chờ cho tường khô mới tô.
-Vệ sinh sạch sẽ bụi bẩn trên bề mặt, nếu gồ ghề, lồi lõm thì cần phải đục đẽo hay đắp thêm tạo cho bề mặt tương đối bằng phẳng rồi mới tiến hành tô – trát.
-Tạo nhám cho bề mặt cần trát để vữa trát dính vào.
-Nếu bề mặt trát khô quá thì tưới nước vào.
-Trải bao ở phía dưới chân chổ trát nhằm tận dụng lại vữa rơi khi trát, tránh gây lãng phí.
-Ngoài ra để tạo độ bám dính bề mặt tốt ta nên trát trước bề mặt kết cấu bằng một lớp hồ dầu.
-Nếu trát bề mặt ngoài của tường thì phải đảm bảo giàn dáo và sàn công tác an toàn trước khi trát.
-Thực hiện xong các công việc nêu trên ta gém hồ hay dùng đinh, gạch vỡ làm dấu lên mốc, phái trên đầu và cuối bức tường trước, sau đó mới tiến hành các mốc phía trong. Làm các mốc phía trên rồi thả quả dọi để làm mốc ở dưới và giữa tường. Khoảng cách các mốc về các phía phải nhỏ hơn thước tầm để dễ kiểm tra độ phẳng lớp trát. Mặt sàn thao tác trên giàn dáo và mặt sàn dưới chân giàn dáo phải quét dọn sạch sẽ trước khi tiến hành công việc.

2. TRÌNH TỰ VÀ CÁC YÊU CẦU KỸ THUẬT KHI TÔ – TRÁT: 
-Nhìn chung kỹ thuật trát các kết cấu là giống nhau chỉ có một số điểm riêng ta cần phải lưu ý do tính chất của nó trên bề mặt nhằm tạo ra một lớp trát có chất lượng, đạt yêu cầu.
-Tiến hành trát trần, dầm trước rồi tới tường, cột sau.
-Trát theo bề dày của mốc đánh dấu. Nên trát thử vài chổ để kiểm tra độ dính kết cấu.
-Chiều dày lớp trát từ 10 – 20mm, khi trát phải chia thành nhiều lớp mỏng từ 5-8mm. Nếu trát quá dày sẽ bị phồng, dột, nứt thông thường chiều dày của một lớp trát nên không mỏng hơn 5mm và không dày hơn 8mm. Khi ngừng trát phải tạo mạch ngừng hình gãy không để thẳng, cắt lớp vữa trát thẳng góc.
-Thực hiện tuần tự 03 lớp trát lót, lớp đệm và lớp ngoài.
-Dùng vữa xi măng mác 75.
-Lớp vữa trát phải bám chắc vào bề mặt các kết cấu công trình; loại vữa và chiều dày lớp vữa trát phải đúng yêu cầu thiết kế; bề mặt lớp vữa phải nhẵn phẳng; các đường gờ cạnh chỉ phải ngang bằng hay thẳng đứng và sắc cạnh.
-Các lớp vữa trang trí thường có yêu cầu mỹ thuật cao.
-Phải kiểm tra độ bám dính của vữa bằng cách gõ nhẹ trên mặt lớp vữa trát, tất cả những chổ bộp đều phải trát lại bằng cách phá rộng chổ đó ra, miết chặt mép vữa xung quanh, để cho se mặt mới trát sửa lại. Mặt tường, bể sau khi trát không có khe nứt, gồ ghề, nẽ chân chim hoặc vữa chảy. Phải chú ý chổ trát dưới bệ cửa sổ, gờ cửa, chân tường, chân lò, bếp, các chổ dễ bị bỏ sót khác. Các cạnh cột, gờ cửa, tường phải thẳng, sắc cạnh, các góc vuông phải được kiểm tra bằng thước. Các gờ bệ cửa sổ phải thẳng hàng với nhau. Mặt trên bệ cửa sổ phải có độ dốc theo thiết kế và lớp vữa trát ăn sau vào dưới khung cửa sổ ít nhất 10mm.
-Tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc an toàn lao động khi làm việc trên giàn dáo hay trên cao.
-Những chổ tiếp giáp giữa gạch với gỗ cần phải làm nhám bề mặt gỗ rồi mới trát.
-Khi trát xong thì cần phải che đậy cẩn thận tránh tác động của thời tiết, và va chạm do vô tình tác động vào. Chú ý bảo dưỡng bề mặt trát, luôn giữ ẩm cho bề mặt trát trong 7 đến 10 ngày.
-Trong quá trình tô trát nếu phát hiện trong vữa có thành phần hạt lớn như đá, sỏi… cần phải loại bỏ ngay.
-Tận dụng lại vữa rơi bên dưới đã có vật lót để trát tiếp.
Thông thường các tổ đội thi công phần xây cũng đảm nhận luôn cả phần trát. Nguyên tắc tổ chức nhìn chung không khác xây là mấy.

Mọi chi tiết về dịch vụ Nhân CôngThi công công trình Công nghiệp – Dân dụng - Hạ Tầng. Quý khách vui lòng liên hệ
CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ NHÂN CÔNG XÂY DỰNG
Hà Nội :Số 17 Tố Hữu - C37 Bộ Công An - Tố Hữu - Nam Từ Liêm
Sài Gòn: 44 Nguyễn Ảnh Thủ - P.Tân Chánh Hiệp - Quận 12 
Đà Nẵng :Số 368 đường Tôn Đức Thắng - P. Hoà Khánh - Quận Liên Chiều
Quý khách gọi trực tiếp để được báo giá và tư vấn trực tiếp
- Phụ trách Khu vực Hà Nội và các tỉnh phía Bắc : 0904.873.388
- Phụ trách Khu vực Đà Nẵng và các tỉnh Miền Trung : 0903.063.386
- Phụ trách Khu vực Sài Gòn và các tỉnh phía Nam : 0914.949.886
Website : www.Nhancongxaydung.net

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *